Cảm nhận bài thơ: Thơ gửi Trần Huyền Trân – Nguyễn Bính

Thơ gửi Trần Huyền Trân

 

Nhớ xưa hồi còn trẻ
Thâm Tâm, Trân với mình
không đào Viên kết nghĩa
nhưng cũng thành tam anh

Tiếng tăm thật là nổi
nhưng cũng thật là nghèo
gác Sơn nằm nhịn đói
cùng đọc thư người yêu

Hễ có tiền trong túi
đời lại làm ông hoàng
đập vỡ quán Lã Vọng
đốt cháy lầu Mộng Hoàn

Những lúc trốn hè phố
trở về đầm Liên Hoa
gió buốt chân Kỳ, Ký
mưa run lều mẹ già

Rồi mùa thu khởi nghĩa
rồi Cách mạng vùng lên
rồi chín năm kháng chiến
rồi một trận Điện Biên…

Rồi hoà bình lập lại
tóc chúng mình còn xanh
tưởng đời ta sẽ được
đẹp như người trong tranh.

Tất cả là ánh sáng
Tất cả là hoa hồng
cuộc đời cứ tiếp diễn
không có màn cuối cùng.

Những cái oan Thị Kính
những cái dại Xuý Vân
chỉ còn trên sân khấu
mỗi khi chèo mở màn.

Ta vẫn là nghệ sĩ
ta vẫn là nhà thơ
nghệ thuật vẫn chung thuỷ
không chết yểu bao giờ.

Sớm nay buổi đầu xuân
gặp nhau bờ sông Vị
đời chúng mình đẹp nhỉ
tiếc không còn Thâm Tâm.


(1963)

*

“Thơ gửi Trần Huyền Trân – Bản hòa âm của tình bạn, lý tưởng và ký ức”

Có những bài thơ không chỉ là thơ, mà là một khúc nhạc trầm lắng ngân lên từ ký ức. Có những dòng chữ không chỉ kể chuyện, mà mở ra cả một thời đã sống, đã yêu, đã hiến dâng trọn vẹn cho nghệ thuật và cho Tổ quốc. “Thơ gửi Trần Huyền Trân” của Nguyễn Bính là một thi phẩm như thế – bài ca dịu buồn về một tình bạn đẹp, một thời tuổi trẻ cháy hết mình, một lý tưởng từng rạng rỡ như bình minh, và cả những tiếc nuối không thể gọi tên.

Tam anh không kết nghĩa, mà nghĩa như huynh đệ

Nhớ xưa hồi còn trẻ
Thâm Tâm, Trân với mình
không Đào Viên kết nghĩa
nhưng cũng thành tam anh

Bài thơ bắt đầu bằng hoài niệm thân thiết, gợi lại hình ảnh một nhóm bạn ba người: Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính – những thi sĩ từng sống và sáng tác giữa những biến động dữ dội của thời đại. Họ không cần phải “kết nghĩa vườn Đào” như Lưu – Quan – Trương trong “Tam quốc chí”, nhưng sự gắn bó, đồng hành, chia sẻ cái nghèo, cái đói, niềm đam mê thi ca và tình yêu nghệ thuật đã làm nên mối thâm tình bất tử.

Nghèo nhưng rực rỡ, đói nhưng vẫn yêu

Tiếng tăm thật là nổi
nhưng cũng thật là nghèo
gác Sơn nằm nhịn đói
cùng đọc thư người yêu

Hễ có tiền trong túi
đời lại làm ông hoàng
đập vỡ quán Lã Vọng
đốt cháy lầu Mộng Hoàn

Nguyễn Bính không giấu giếm sự thật trần trụi của một đời nghệ sĩ: danh tiếng không cứu họ khỏi bữa cơm thiếu, khỏi đêm đói nằm trong căn gác nhỏ, nhưng trong cái đói ấy lại cháy sáng một ngọn lửa – ngọn lửa thi ca, ngọn lửa của tuổi trẻ dám sống hết mình, yêu hết mình. Có tiền, họ chơi như hoàng tử. Hết tiền, họ lặng lẽ đọc thư người yêu trong bóng tối. Đó là những con người nghèo vật chất nhưng giàu lý tưởng, giàu cảm xúc và cao thượng trong khát vọng sống.

Từ đầm Liên Hoa đến trận Điện Biên – cuộc đời đã rẽ sang ngã lớn

Rồi mùa thu khởi nghĩa
rồi Cách mạng vùng lên
rồi chín năm kháng chiến
rồi một trận Điện Biên…

Những dòng thơ này là cột mốc chuyển giao của một thời đại và cũng là bước ngoặt trong cuộc đời những thi sĩ trẻ. Họ – những người từng trốn hè phố về đầm Liên Hoa – nay khoác súng lên đường, đi qua kháng chiến, góp một phần tâm huyết vào lịch sử. Nhưng Nguyễn Bính viết câu này không phải để khơi gợi hào khí, mà như một tiếng thở dài. Bởi những cuộc kháng chiến vĩ đại ấy cũng đã lấy đi nhiều điều đẹp đẽ, cả những người bạn thân yêu như Thâm Tâm – người đã không còn được cùng họ ngồi bên sông Vị vào một sớm xuân.

Nghệ thuật không chết, chỉ có bạn bè vắng mặt

Ta vẫn là nghệ sĩ
ta vẫn là nhà thơ
nghệ thuật vẫn chung thủy
không chết yểu bao giờ.

Ở đây, Nguyễn Bính khẳng định một chân lý âm thầm: nghệ thuật sống dài hơn đời người, và ông vẫn trung thành với con đường đã chọn, như một người tu hành suốt kiếp. Nhưng câu thơ ấy vang lên không phải với sự tự hào mà thấm đẫm nỗi cô đơn: nghệ thuật thì ở lại, nhưng bạn bè – người thân – lý tưởng – một thời đã mất.

Gặp nhau bên bờ sông Vị – người còn, người mất, tình vẫn còn nguyên

Sớm nay buổi đầu xuân
gặp nhau bờ sông Vị
đời chúng mình đẹp nhỉ
tiếc không còn Thâm Tâm.

Khổ thơ kết là một cái siết tay, một ánh nhìn qua thời gian. Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân vẫn còn đây, gặp nhau giữa một buổi đầu xuân – mùa của khởi đầu, của hy vọng. Nhưng người thứ ba của “tam anh” – Thâm Tâm – đã vắng bóng. Và chính sự vắng mặt ấy làm cái đẹp thêm day dứt. Tình bạn sâu như sông Vị, ký ức trong như buổi xuân, và nỗi tiếc thương nhẹ nhàng mà quặn thắt.

Thông điệp: Đừng để tuổi trẻ chỉ còn trong hoài niệm

“Thơ gửi Trần Huyền Trân” không chỉ là một bản hồi tưởng, mà còn là một lời nhắn nhủ thầm lặng về giá trị của tình bạn, của niềm tin, và của lý tưởng sống. Nó nhắc ta nhớ rằng, những gì đẹp nhất trong đời thường không dài lâu, nhưng nếu ta đã sống trọn vẹn trong nó, đã yêu thương bằng trái tim không toan tính, thì nó sẽ sống mãi như một ngọn lửa trong thơ, trong ký ức, trong nhân cách.

Kết: Một bài thơ – một nén nhang thơm cho bạn cũ, cho một thời đã xa

Nguyễn Bính không cố làm thơ hay, nhưng chính sự chân thành trong từng câu chữ đã khiến bài thơ lay động lòng người. Đó là một bài thơ không có cao trào, nhưng rung động mãi như tiếng đàn xưa giữa đêm vắng. Một nén nhang thơm cho Thâm Tâm, cho những ngày gác Sơn đói mà vẫn mộng mơ, cho những tháng năm tuổi trẻ đã cháy lên không tiếc nuối, và cho tình bạn – ngọn lửa hiếm hoi trong cuộc đời vốn nhiều chia cách.

“Đời chúng mình đẹp nhỉ” – một câu nói nhẹ nhàng nhưng đủ sức níu giữ cả một thời đã mất.

*

Nguyễn Bính (1918-1966) là một trong những nhà thơ nổi bật của phong trào Thơ mới Việt Nam. Ông được biết đến với phong cách mộc mạc, giản dị, đậm chất dân gian và mang hồn quê sâu sắc. Thơ Nguyễn Bính thường gắn với hình ảnh thôn quê, con người bình dị và những chuyện tình duyên đầy cảm xúc, thể hiện một tâm hồn tha thiết với truyền thống. Một số bài thơ tiêu biểu như Lỡ bước sang ngang, Tương tư, Chân quê… đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.

Viên Ngọc Quý

Bạn có thể chia sẻ bài viết qua:

Bạn cũng có thể thích..

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *