Biển trước mặt – Nắng cửa Tùng
“Nắng toả chiều nay, chiều toả nắng…”
Cửa Tùng ơi, cửa mở tôi về
Trong câu hát cũ, trong ngày tháng,
Với bến sông này, với xóm quê.
Mát mái đò đưa rời bến bạn
Bâng khuâng chiều thả sợi dương vàng
Chung chiêng doi cát nghiêng nghiêng nón
Cô gái đi về lối Cát Sơn
Cuối bến An Hoà thuyền rộ máy
Mo cơm đi biển kịp trao cha
Đoàn thuyền hợp tác chồm qua cửa
Vệt nước Hiền Lương ấm biển xa
Bạn kể những năm rào giới tuyến
Đây vẫn là nơi bến lại qua
Có cô em gái bên đồn giặc
Coi việc đưa quân tựa việc nhà
Cha kể những năm bom giặc nổ
Nơi đây mấy bận đất san bằng
Vách hầm địa đạo nung trong lửa
Âm ỉ câu thề giữ Vĩnh Quang
Mẹ kể con nghe cha đã khuất
Một đời như sóng vỗ ngang mày
Rồi đêm tiếp tế cho Cồn Cỏ…
… Mắt mẹ mờ đi bóng đảo mây.
Anh kể những ngày vô đánh Mỹ
Ăn cơm bờ Bắc, giặc bờ Nam
Đêm đêm bám địch trên Ba Dốc
Cháy ruột quê nhà rung tiếng bom
Em kể những ngày đi sơ tán
Dắt nhau ra tận đất Nam Hà
Mỗi chiều đài báo tin Cồn Cỏ
Mấy đứa ra vào mặt ngẩn ngơ…
Cứ thế tôi nghe chuyện của làng
Như xa xăm lắm, lại rất gần
Biển xanh, đất đỏ, sân vàng nắng
Ngào ngạt hồn tôi những tháng năm
Tôi tưởng tôi sinh lại buổi đầu
Cây tiêu cắm xuống hố bom đào
Đầu trần, chân đất, hồn thơ dại
Tôi mọc lên cùng bụi mít cao.
Tôi tưởng tôi là em đấy thôi
Hỡi em gái nhỏ thoáng bên đồi
Em cào từng sợi dương vương vãi
Giúp mẹ chiều hôm nấu rổ khoai
Thanh thản lòng tôi em biết không
Làng ta xanh biển, lại xanh đồng
Mười năm dựng lại nên làng, bãi
Tiêu đã đơm sây, giếng đã trong
Cứ thế đất không biết phụ người
Người không phụ đất mặn mồ hôi
Biển bằng không phụ mùa tôm cá
Con nước Hiền Lương trong trẻo trôi…
Ai hát chiều nay chiều toả nắng
Dắt tôi đi suốt nỗi chờ mong
Giữa triều sóng dội đời dân dã
Muối đọng hồn tôi nắng cửa Tùng…
5-1982
Nắng Cửa Tùng – Hồn Quê Trong Mỗi Ánh Nhìn
Cửa Tùng hiện lên trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là một địa danh, mà còn là một không gian ký ức, nơi biển trời chan chứa tình quê, nơi con người gắn bó với đất, với sóng bằng những câu chuyện đời bền bỉ. Giữa sắc nắng rực rỡ của biển, những hình ảnh quen thuộc bến sông, thuyền cá, những con người chân chất hiện ra trong sự hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại.
Cửa mở về miền ký ức
Bài thơ mở đầu bằng ánh nắng rực rỡ trải dài trên Cửa Tùng, mang theo bao ký ức gọi mời:
“Nắng toả chiều nay, chiều toả nắng…
Cửa Tùng ơi, cửa mở tôi về”
Nắng không chỉ là ánh sáng, mà còn là biểu tượng của sự sống, của những tháng năm tần tảo trên vùng biển quê hương. Dưới ánh nắng ấy, tác giả trở về với hình ảnh xóm làng thân thuộc, nơi từng con sóng vỗ, từng chuyến đò ngang, từng mái nhà đơn sơ vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí.
Cửa Tùng không chỉ là một vùng biển, mà còn là một nơi lưu giữ những câu chuyện những cuộc đời đã từng đi qua chiến tranh, đã từng chờ mong, đã từng hàn gắn những mất mát.
Những câu chuyện còn vang vọng
Dọc theo từng dòng thơ, ký ức về những năm tháng hào hùng của làng biển hiện ra qua lời kể của cha, của mẹ, của những người dân quê:
“Bạn kể những năm rào giới tuyến
Đây vẫn là nơi bến lại qua
Có cô em gái bên đồn giặc
Coi việc đưa quân tựa việc nhà”
“Mẹ kể con nghe cha đã khuất
Một đời như sóng vỗ ngang mày”
Những câu chuyện ấy không chỉ là hoài niệm, mà còn là minh chứng cho sự kiên cường của con người nơi đây. Cửa Tùng đã trải qua những tháng năm bị bom đạn cày xới, những đêm tiếp tế cho Cồn Cỏ, những ngày đấu tranh không ngừng nghỉ. Vậy mà, sau tất cả, vùng đất này vẫn đứng vững, như chính những con người đã gắn bó với nó.
Sự hồi sinh từ lòng người
Sau chiến tranh, Cửa Tùng không chỉ giữ lại những vết tích của quá khứ, mà còn trở thành nơi chứng kiến sự tái sinh của làng quê:
“Cứ thế tôi nghe chuyện của làng
Như xa xăm lắm, lại rất gần”
Những con người từng đi qua mất mát nay lại tiếp tục vun đắp cuộc sống. Đất không phụ người, người không phụ đất, biển lại tràn đầy tôm cá, ruộng đồng lại xanh tốt, tiêu đã đơm sây, giếng đã trong. Cảnh vật và con người hòa vào nhau trong nhịp sống mới, vừa giản dị, vừa thấm đẫm niềm hy vọng.
Muối đọng hồn tôi, nắng cửa Tùng
Tác giả kết bài bằng hình ảnh đầy sức gợi:
“Ai hát chiều nay chiều toả nắng
Dắt tôi đi suốt nỗi chờ mong
Giữa triều sóng dội đời dân dã
Muối đọng hồn tôi nắng Cửa Tùng…”
Ánh nắng Cửa Tùng không chỉ là nắng trời, mà còn là ánh sáng của niềm tin, của những con người một đời bám biển, gắn bó với quê hương. Muối mặn của biển thấm vào lòng người như một biểu tượng của tình quê nồng đượm.
Bài thơ khép lại, nhưng dư âm về Cửa Tùng vẫn còn vang vọng. Đó không chỉ là một địa danh, mà còn là biểu tượng của những giá trị bền vững tình người, tình đất, tình quê hương. Nguyễn Khoa Điềm đã vẽ nên một Cửa Tùng vừa quen thuộc, vừa thiêng liêng, nơi ánh nắng soi rọi bao thế hệ, nơi biển cả và con người cùng nhau viết tiếp những chương đời.
*
Nguyễn Khoa Điềm – Nhà thơ và Nhà chính trị Việt Nam
Nguyễn Khoa Điềm (sinh ngày 15/4/1943), tên thật là Nguyễn Hải Dương, là một nhà thơ, nhà chính trị nổi bật của Việt Nam. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin và Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X.
Sinh ra tại Thừa Thiên Huế, Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa, là con trai của nhà báo Hải Triều. Ông học tập tại miền Bắc và tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964. Sau đó, ông vào miền Nam tham gia phong trào học sinh, sinh viên, hoạt động trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vừa chiến đấu vừa sáng tác thơ ca.
Nguyễn Khoa Điềm được biết đến với những tác phẩm mang đậm chất sử thi và tinh thần yêu nước. Tiêu biểu nhất là trường ca Mặt đường khát vọng (1974), tác phẩm thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc và tư tưởng về đất nước, con người Việt Nam. Ngoài ra, ông còn có nhiều tập thơ giá trị như Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Cõi lặng (2007), và được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Sau khi nghỉ hưu, ông sống tại Huế, tiếp tục đóng góp cho văn học nước nhà bằng những tác phẩm giàu ý nghĩa. Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca kháng chiến và văn học Việt Nam hiện đại.
Viên Ngọc Quý.