Cảm nhận bài thơ: Giấc mơ bom nguyên tử – Nguyễn Vỹ

Giấc mơ bom nguyên tử

 

Chiều quạnh quẽ ngồi trên lưng núi,
Lánh xa đời gió bụi phù hư,
Suối đồi vi vút hơi thu,
Bao la mây nước mịt mù đìu hiu.
Buồn man mác, nằm thiu thiu ngủ,
Dưới bóng cây buông rũ lá vàng,
Chập chờn trong giấc mơ màng,
Du dương xao xuyến, khúc đàn thông reo.
Bỗng, văng vẳng tiếng kêu, tiếng khóc,
Những u buồn tang tóc, bi ai,
Rì rầm trong gió, trong mây,
Nỉ non vang khắp trần ai ta bà,
Mạch máu chảy chan hoà mạch đất,
Ngật tử thi chồng chất chân trời,
Lập loà như lũ ma trơi
Những luồng lửa đỏ cháy thui địa cầu.
Chìm nhân loại trong bầu máu nóng.
Lò cừ đun những đống xương khô,
Đầu lâu không mả không mồ,
Xác người xác thú núi gò ngổn ngang.
Đại bác nổ lừng vang trái đất,
Khói lửa tràn mù mịt Đông Tây,
Đạn vèo, tóc rụng, đầu bay;
Máu phun lên nhuộm rừng mây đỏ lòm.
Trận Đại chiến cuối cùng bùng nổ,
Trên năm châu ngọn gió điên cuồng,
Lên men, say máu anh hùng,
Đua nhau chém giết, mổ lòng, ăn gan.

Muôn triệu cảnh khóc than thảm thiết,
Muôn triệu người rên siết đau thương,
Thây nằm chật các nẻo đường,
Hồn bay vất vưởng sa trường máu tanh.
Cuộc tàn sát hung hăng gớm ghiếc,
Trẻ, già, côi, chém giết không tha,
Say mèm như tiệc đám ma.
Tiếng kèn vang những bài ca hãi hùng.

      *

Bỗng sấm sét đùng đùng ghê dữ,
Trăn nghìn bom nguyên tử nổ rơi,
Tửng chừng mặt đất nứt đôi,
Vòm mây tan vỡ, biển sôi, sóng trào.
Trận dông tố ào ào nổi dậy,
Quét tan hoang như giẫy cõi trần,
Người người ngã chết hết dần,
Lâu đài thành quách tan tành ra tro.
Những tàu bay, tàu bò, tàu lặn,
Những gươm đao súng đạn giết người,
Rớt chìm trong đáy bể khơi
Muôn muôn triệu xác nổi trôi dật dờ.
Hình như thể loài người chết cả?
Khắp bao la đầy mả mồ hoang!
Tưởng như trong cảnh điêu tàn,
Hai người sống sót là nàng với ta…
Phải chăng một giấc mơ hoa?
Trong mơ chỉ thấy còn ta với Nàng…
Trời quang đãng, bóng vàng ngả xế,
Mặt địa cầu hoang phế cô liêu.
Thoáng nghe vài tiếng chim kêu,
Trong mây, trong gió, đìu hiu lạnh lùng.
Bao la thẳm, một vùng lặng lẽ,
Phố phường hoang, tường bể ngói rơi,
Không trông thấy bóng một người,
Mênh mông quạnh quẽ trên trời dưới ta.
Giữa hoàn vũ, tha ma tử địa,
Nhìn chung quanh vắng vẻ buồn tênh,
Nàng, tôi, hai bóng kề bên,
Nắm tay đủng đỉnh đi trên địa cầu.
Bước sợ hãi trong bầu nắng gắt,
Lắng tai nghe quả đất vần xoay,
Êm êm, dìu dịu say say,
Vô biên, thăm thẳm, trời mây xanh lồng.
Cồn núi vẫn trùng trùng điệp điệp,
Suối, ao, hồ, rộn rịp sóng reo,
Hơi thu thổi lá bay vèo,
Ngổn ngang xác chết, như bèo, trôi sông,
Trôi chìm hết ra dòng sóng bể,
Gió lùa đi, không để xác ai
Còn đâu dấu vết loài người?
Nghe đâu tiếng khóc, tiếng cười, tiếng kêu…?
Trong vắng lặng trời chiều bát ngát,
Nàng và tôi ngơ ngác dắt nhau,
Đi… nhưng nào biết đi đâu?
Chung quanh núi thẳm, sông sâu, đất bằng…
Bỗng thấp thoáng từ đằng xa tới,
Một cụ già bạc phới đầu râu,
Tay già chống chiếc gậy lau,
Áo xanh phất phới gợn màu xanh mây,

      *

Nàng và tôi chấp tay chào hỏi:
– Lạy cụ già, thưa cụ là ai,
Cụ cười: – Ta xuống trần ai?
Đổi lại mặt đất và thay giống người.
Ta đã sắp cõi đời xán lạn,
Ơn sinh thành muôn vạn triệu niên,
Tạo nhân, lập địa, khai thiên,
Gây ra giống thú, giống chim, giống người.
Riêng nhân loại tuyệt vời trí óc,
Còn chim muông ngu ngốc mê si,
Chỉ người mới có lương tri,
Có lòng để cảm để suy cuộc đời.
Nhưng đa số loài người hư hỏng,
Dùng tâm linh, trí dõng giết nhau,
Muôn ngàn kiếp trước, kiếp sau,
Không tu được đức không trau được tình.
Ta chỉ thấy chiến tranh tàn sát,
Người giết người khao khát máu tanh.
Tham tàn, ích kỷ, kiêu căng,
Giành nhau chỉ biết miếng ăn miếng mồi.
Càng tiến bộ càng đồi bại lắm,
Càng văn minh, càng đắm truy hoan.
Càng thêm vật chất huy hoàng,
Tinh thần truy lạc, điếm đàng hơn xưa.
Ghét xã hội loài người mục nát,
Mặt đất đầy tội ác xấu xa,
Lòng người hèn nhát thối tha,
Một luồng ám khí trộn pha dương trần.
Nên ta quét tan tành cõi tục,
Xoay lại chiều cây trục hành tinh,
Cho muôn triệu ức sinh linh,
Diệt vong trong cảnh u minh tận cùng.
Để dứt hẳn điên cuồng loạn đả,
Ta tung làn Phóng xạ đánh tan,
Cho tiêu, cho diệt, cho tàn,
Cho bi thảm kịch hạ màn kết chung.
Ta lập lại một vùng đất mới,
Cho loài người khác với loài xưa,
Đổi thay hẳn tấn tuồng đời,
Chỉ còn trong sạch, sáng ngời, vinh quang.
Giống dân mới được toàn hạnh phúc,
Không miệt mài lục đục giết nhau,
Gió vàng không hái đầu lâu,
Đất vàng không lấp mồ sâu thịt người.
Dân không bị một đời tôi mọi,
Không còn đâu tù tội xích xiềng,
Hoà bình, Hạnh phúc liên miên,
Tự do, Bác ái thành tiên trên đời.

      *

Ông cụ nói rồi cười ha hả,
Tôi bèn thưa vội vã mấy câu:
– Cụ ơi, Dân Việt còn đâu?
Dân tôi mặt mũi mày râu Tiên Rồng
Dân ta vẫn anh hùng chí khí,
Giữ tinh thần đạo lý nêu cao.
Dù nguy dù biến thế nào,
Nghìn năm nô lệ chí cao vẫn còn.
Dân ta đã tận cùng đau khổ,
Cụ không thương sao nỡ giết a?
Cụ cười: – Con chớ lo xa!
Đất Việt còn đó, Dân ta vẫn còn!
Là giòng dõi Lạc Hồng thuở trước,
Trải nhiều phen mất nước nguy nan
Mấy lần điên đảo giang san,
Giống nòi điêu đứng dân gian khốn cùng.
Bao thế hệ anh hùng tử trận,
Chôn bấy nhiêu uất hận non sông,
Thương cho con cháu Tiên Rồng!
Bị lâm số kiếp vào vòng lao lung!
Nhưng ta đã tháo tung xiềng xích,
Kẻ hại dân, ta giết không còn,
Kìa sông, kìa núi, kìa cồn,
Đất ta còn đó, còn hồn linh thiêng.
Trên thế giới còn riêng giống Việt,
Ta còn cho sống miết muôn năm,
Dân ta kể triệu hăm lăm,
Ta tiêu diệt bớt, còn năm vạn người.
Ta quét sạch những loài ô trược,
Kẻ buôn dân, bán nước, bán trời,
Còn năm vạn sống trên đời,
Sẽ gây giống mới loài người tương lai,
Cho tản mác Đông Tây Nam Bắc,
Giống Rồng Tiên gieo rắc đó đây,
Cho đời tái tạo sau này,
Năm châu đông đúc một loài Dân ta.
Nào đàn ông, đàn bà, con trẻ,
Bóng Dân ta vui vẻ khắp nơi.
Hoà bình hạnh phúc đời đời,
Sống trên hoàn vũ giống người tự do.
Loài người mới ăn no mặc ấm,
Hết tham tàn, xâm lấn, giết nhau,
Thiên đàng cực lạc năm châu,
Muôn muôn thế hệ về sau thanh bình.

Cụ nói xong thình lình biến mất.
Nàng và tôi bốn mắt nhìn nhau.
Bỗng trời đổ trận mưa ngâu,
Nàng, tôi, hoá cặp bồ câu trắng toàn.
Tôi chắp cánh cùng nàng bay miết,
Trên non xanh nước biếc nghìn trùng.
Bay về đến cửa Thiên cung,
Có cô Tiên đẹp, mắt nhung, đón mừng.
Tự kiếp ấy, chín từng xanh thẳm,
Nàng và tôi, say đắm yêu nhau,
Muôn năm chẳng thấy bạc đầu,
Muôn năm tình chẳng hương màu bạc phai.
Gió ngào ngạt, vườn trời tươi nở,
Muôn Hoa Sao rực rỡ muôn màu,
Nàng, tôi âu yếm nhìn nhau,
Ấp trong ổ mộng mấy câu thơ tình.
Tiếng sấm nổ tan tành giấc mộng!
Bừng mắt, ôi! dưới bóng thông reo,
Một mình ta vẫn nằm queo,
Quanh mình lá rụng, gió veo, bụi mờ.
Ngồi buồn chép lại giấc mơ…


Đà Lạt 1954

*

Giấc Mơ Bom Nguyên Tử – Bản Cáo Trạng Về Chiến Tranh và Sự Tái Sinh Của Nhân Loại

Trong cõi mơ huyễn hoặc của Nguyễn Vỹ, “Giấc mơ bom nguyên tử” không chỉ là một bức tranh tàn khốc của chiến tranh mà còn là tiếng vọng đau thương của nhân loại trên bờ vực tận diệt. Ở đó, lửa bom, khói đạn, máu thịt vỡ tan tạo nên một thiên trường bi kịch, nơi loài người tự chôn vùi chính mình trong cơn cuồng nộ của bạo lực. Nhưng cũng từ chính tàn tro hoang tàn ấy, nhà thơ đã gieo lên một tia hy vọng – một thế giới mới thanh khiết hơn, nơi con người có thể tái sinh với lương tri và đạo nghĩa.

Chiến tranh – Cuộc tàn sát của nhân loại

Mở đầu bài thơ là khung cảnh tĩnh lặng của thiên nhiên. Một buổi chiều trên lưng núi, gió thu vi vút, cây rũ lá vàng, tất cả như báo hiệu một nỗi buồn man mác. Nhưng ngay trong khoảnh khắc bình yên ấy, một giấc mơ kinh hoàng ùa đến – một giấc mơ của máu, của chết chóc, của tận thế.

“Mạch máu chảy chan hoà mạch đất,
Ngật tử thi chồng chất chân trời,
Lập loà như lũ ma trơi
Những luồng lửa đỏ cháy thui địa cầu.”

Hình ảnh máu hòa vào đất, thi thể chất đống, lửa đỏ phủ kín bầu trời là những dấu tích ghê rợn của cuộc chiến. Ở đây, Nguyễn Vỹ không chỉ nói về một cuộc chiến thông thường mà là “Trận Đại chiến cuối cùng”, nơi nhân loại đi đến cùng cực của sự hủy diệt.

Khi bom nguyên tử được thả xuống, mặt đất nứt đôi, biển sôi, mây tan vỡ – hình ảnh mang đậm tính khải huyền. Tất cả tan thành tro bụi. Chỉ còn lại một vùng đất hoang vắng, nơi dấu vết của con người dường như đã bị xóa sổ.

Sự tái sinh – Hy vọng trong hoang tàn

Nhưng giữa sự đổ nát tuyệt vọng, hai nhân vật vẫn còn sống sót: “Nàng với ta”. Giữa đất trời quạnh quẽ, hai con người nắm tay nhau, bước đi trong sợ hãi, không biết sẽ đi về đâu.

“Giữa hoàn vũ, tha ma tử địa,
Nhìn chung quanh vắng vẻ buồn tênh,
Nàng, tôi, hai bóng kề bên,
Nắm tay đủng đỉnh đi trên địa cầu.”

Phải chăng đây chính là tia sáng cuối cùng của nhân loại, khi tất cả đã bị quét sạch, khi mọi giá trị cũ đã bị thiêu rụi, chỉ còn lại hai con người đứng giữa trời đất hoang sơ?

Giữa lúc hoang mang ấy, một cụ già xuất hiện. Ông chính là hình tượng người kiến tạo, một vị thần, một sức mạnh siêu nhiên đến để tái lập thế giới. Ông phán xét loài người, nói về tội lỗi của họ:

“Ta chỉ thấy chiến tranh tàn sát,
Người giết người khao khát máu tanh.
Càng tiến bộ càng đồi bại lắm,
Càng văn minh, càng đắm truy hoan.”

Thế giới cũ đã chết. Nhưng thế giới mới sẽ bắt đầu. Một loài người mới sẽ sinh ra, không còn tham vọng, không còn chiến tranh, không còn áp bức và tù đày.

Đặc biệt, Dân tộc Việt Nam vẫn còn! Giữa sự tận diệt của nhân loại, dòng máu Tiên Rồng vẫn tiếp tục chảy, để tạo dựng một giống nòi mới, mang theo tinh thần bất khuất và đạo nghĩa.

Lời cảnh tỉnh cho nhân loại

Nhưng tất cả chỉ là một giấc mơ. Người thi sĩ bừng tỉnh, vẫn nằm đó, dưới bóng thông reo, giữa lá rụng và gió thổi hiu hắt. Giấc mơ tan biến, nhưng nỗi ám ảnh vẫn còn, như một lời cảnh tỉnh rằng chiến tranh có thể đến bất cứ lúc nào, và tận thế không chỉ là một viễn cảnh xa xôi.

Nguyễn Vỹ đã viết bài thơ này năm 1954, khi thế giới vẫn chưa nguôi ngoai nỗi đau của Chiến tranh Thế giới thứ hai, và hiểm họa bom nguyên tử vẫn treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Qua bài thơ, ông không chỉ tố cáo tội ác của chiến tranh, mà còn đặt ra một câu hỏi lớn: Nếu loài người không biết dừng lại, liệu có một ngày tất cả sẽ hóa tro bụi?

“Ngồi buồn chép lại giấc mơ…”

Câu thơ cuối cùng là một nỗi niềm day dứt. Phải chăng, giấc mơ này sẽ mãi là giấc mơ? Hay một ngày nào đó, chiến tranh sẽ thực sự biến loài người thành cát bụi? Và khi ấy, liệu có còn ai để mơ về một ngày tái sinh?

*

Nguyễn Vỹ – Nhà thơ, nhà báo kiên định với lý tưởng

Nguyễn Vỹ (1912 – 1971) là một nhà thơ, nhà báo nổi bật trong nền văn học Việt Nam thời tiền chiến. Ông không chỉ được biết đến qua hai bài thơ gây tiếng vang: Gởi Trương TửuSương rơi, mà còn ghi dấu ấn với nhiều tác phẩm đa dạng từ thơ ca, tiểu thuyết đến biên khảo.

Sinh tại Quảng Ngãi, Nguyễn Vỹ sớm bộc lộ tư tưởng yêu nước, từng nhiều lần bị bắt giam vì các hoạt động chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ông cũng là người sáng lập nhiều tờ báo như Việt – Pháp, Tổ quốc, Dân chủ, Dân ta, trong đó tạp chí Phổ Thông được đánh giá cao về văn học và nghệ thuật.

Thơ Nguyễn Vỹ mang phong cách riêng biệt, thể nghiệm nhiều lối viết mới. Dù từng bị phê phán, nhưng ông vẫn kiên trì theo đuổi con đường sáng tạo, để lại dấu ấn với những tác phẩm thể hiện nỗi trăn trở về xã hội và vận mệnh con người.

Ông qua đời năm 1971 do tai nạn giao thông, khép lại cuộc đời một người cầm bút nhiệt huyết, dấn thân không ngừng vì văn chương và tư tưởng.

Viên Ngọc Quý.

Bạn cũng có thể thích..

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *