Cảm nhận bài thơ: Hai con chó – Nguyễn Vỹ

Hai con chó

 

Chàng có viết hai quyển sách “Cái hoạ Nhật Bản” và “Kẻ thù là Nhật Bản” bị quân đội Nhật ở Hà Nội bắt giam chiều 30 Tết trong hầm kín của Sở Hiến binh Nhật, Kampetai. Chàng cùng bị giam với bốn người Việt khác. Bài thơ này làm trong phòng ngục tử hình, thấp và chật, như cái chuồng chó, đêm giao thừa Nhâm Ngọ, 1942.

Chuồng ngục tối om, kìa bốn xó
Bốn thằng bơ bơ như bốn chó
Chẳng được nói năng, chẳng được cười
Hai chân chồm hỗm ngồi co ró

Lưng rít mồ hôi, không dám cọ
Ngứa ngáy tay chân không rậy rọ
Rệp bò lên cổ, leo lên đầu
Muỗi bay khiêu vũ, kêu ó ó

Một tên linh Nhật ngồi ngay đó
Nét mặt hầm hầm, tròng mắt lỏ
Đeo chiếc gươm dài, cầm roi da
Thỉnh thoảng quất lên bốn đầu sỏ

Hắn uống rượu gì màu đỏ đỏ
Như uống máu tươi trong cái sọ
Kìa nó gật gù, đầu ngả nghiêng
Máu nhểu quanh môi từng giọt nhỏ

Hai mắt đỏ hoe xoay tròn ngó
Thằng tù lim dim trong một xó
Hắn sả ba roi lên đỉnh đầu
Thằng tù rụt vai, mặt mếu mó

Một thằng tù khác ngồi nhăn nhó
Tay run cầm cập, răng gỏ mỏ
Sốt rét lên cơn, không dám nằm
Cúi đầu lạy lạy như xin xỏ

Thằng tù thứ ba ngồi nhóc mở
Da mặt xanh lè, mắt tho lỏ
Hắn bị tra điện hồi đầu hôm
Giờ như cái xác con ma xó

Thằng tôi chờ chết, ngồi co ró
Làm thơ âm thầm lấy vần “chó”
Bỗng một chó Nhật vừa đi qua
Đứng ngoài song sắt trố mắt ngó

Nó nhìn thằng tôi, tôi nhìn nó
Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!
Bỗng dưng tôi cười ha! ha! ha!
Nó cũng vẫy đuôi cười hó! hó!

Tên lính Nhật hoàng la xí xó
Đạp giày lên lưng xua đuổi nó
Rồi quật roi da lên đầu tôi
Ào ào ạt ạt như Thần gió!

Chó Nhật ẳng ẳng chạy gần đó
Quây lại vẫy đuôi đứng lấp ló
Rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi
Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!

Hà Nội mừng xuân năm Nhâm Ngọ
Pháo nổ tưng bừng đèn sáng tỏ
Chó Nhật vẫy đuôi chờ tôi ngâm
Dăm chục câu thơ mừng kiếp chó!

Ôi tôi ôi, tôi ôi là tôi!
Ôi chó ôi, chó ôi là chó!

*

Hai Con Chó – Bi Kịch Của Thân Phận Trong Đêm Giao Thừa Lịch Sử

Giao thừa trong địa ngục

Giao thừa – thời khắc thiêng liêng của đoàn viên, của sum vầy, của niềm vui đón năm mới, vậy mà trong bài thơ Hai con chó của Nguyễn Vỹ, đó lại là một đêm tối tăm nơi ngục thất. Không có ánh đèn rực rỡ, không có tiếng pháo vang trời, chỉ có một gian phòng chật hẹp, hôi hám, nơi năm con người bị đọa đày như những con vật, không được nói, không được cười, chỉ có thể ngồi co ro trong sự đau đớn và tủi nhục.

Những câu thơ mở đầu đã vẽ nên một khung cảnh đầy ám ảnh:

“Chuồng ngục tối om, kìa bốn xó
Bốn thằng bơ bơ như bốn chó
Chẳng được nói năng, chẳng được cười
Hai chân chồm hỗm ngồi co ró”

Không gian nhà giam hiện lên như một chiếc chuồng chó thực sự. Con người bị đối xử chẳng khác gì loài vật, thậm chí còn tệ hơn.

Đòn roi, tra tấn và sự dã man của kẻ thống trị

Không chỉ là sự giam cầm về thể xác, những người tù trong bài thơ còn chịu đựng sự hành hạ về tinh thần lẫn thể xác. Người lính Nhật – kẻ nắm quyền sinh sát trong tay – xuất hiện như một con quái vật:

“Một tên lính Nhật ngồi ngay đó
Nét mặt hầm hầm, tròng mắt lỏ
Đeo chiếc gươm dài, cầm roi da
Thỉnh thoảng quất lên bốn đầu sỏ”

Những nhát roi da quất xuống không chỉ là đòn tra tấn thể xác mà còn là biểu tượng cho sự chà đạp của chế độ thực dân phát xít. Nguyễn Vỹ không chỉ khắc họa nỗi đau của cá nhân mình mà còn tái hiện cả một thời kỳ đen tối, khi những người yêu nước bị bức hại chỉ vì dám cất lên tiếng nói chống lại ngoại xâm.

Sự đối lập cay đắng giữa con người và con chó

Thế nhưng, giữa địa ngục trần gian ấy, có một khoảnh khắc kỳ lạ: cuộc đối diện giữa Nguyễn Vỹ và một con chó Nhật. Con chó đứng ngoài song sắt, nhìn ông, và ông nhìn nó. Trong khoảnh khắc đó, giữa người và chó có một sự đồng cảm đến nghẹn ngào:

“Nó nhìn thằng tôi, tôi nhìn nó
Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!”

Có gì đau đớn hơn khi một con người phải tự ví mình như một con chó? Khi đến cả một con vật cũng có thể chia sẻ nỗi khốn khổ mà con người phải chịu đựng? Đáng cay đắng hơn, trong khi con người bị hành hạ, bị chà đạp, thì con chó kia – dù chỉ là một con vật – vẫn có phần tự do hơn, vẫn có thể vẫy đuôi, vẫn có thể bày tỏ cảm xúc của mình mà không bị đánh đập.

Chế độ phi nhân tính và bi kịch của thân phận bị trị

Bài thơ không chỉ tố cáo sự tàn bạo của phát xít Nhật mà còn phản ánh một hiện thực nghiệt ngã hơn: trong xã hội ấy, con người bị biến thành súc vật, bị coi rẻ hơn cả một con chó. Nguyễn Vỹ không còn giữ chút sĩ diện nào cho mình, ông chấp nhận gọi mình là “chó”, chấp nhận sự thật đau đớn ấy như một cách để khắc họa sự phi nhân của chế độ cai trị.

Ở những câu cuối cùng, khi Hà Nội đang tưng bừng đón năm mới, người tù vẫn bị nhốt trong ngục tối, vẫn đối diện với con chó, vẫn tiếp tục cái vòng lặp tuyệt vọng:

“Rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi
Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!”

Tiếng cười cay đắng của kẻ tỉnh trong cơn say lịch sử

Giữa đêm tối của ngục tù, giữa những roi đòn và tra tấn, Nguyễn Vỹ không khóc than, không rên rỉ, mà cười một tiếng cười chua chát, bi phẫn, nhưng cũng đầy kiêu hãnh. Đó là tiếng cười của một kẻ ý thức được bi kịch của mình, của dân tộc mình. Tiếng cười ấy không chỉ là sự chế giễu kẻ thù, mà còn là một lời tuyên ngôn đầy mạnh mẽ: có thể giam cầm thể xác, có thể đánh đập con người, nhưng không thể bẻ gãy được tinh thần.

Bài thơ Hai con chó không chỉ là một tác phẩm cá nhân của Nguyễn Vỹ mà còn là một bản cáo trạng đanh thép về tội ác của chế độ thực dân phát xít, đồng thời là một bức tranh bi thương về số phận của những người trí thức yêu nước trong thời đại đầy biến động. Để rồi, giữa những dòng thơ ấy, ta không khỏi nghẹn lòng trước câu hỏi day dứt mà ông để lại:

“Ôi tôi ôi, tôi ôi là tôi!
Ôi chó ôi, chó ôi là chó!”

Là người hay là chó? Là kẻ bị trị hay là chủ nhân vận mệnh của mình? Câu trả lời vẫn lơ lửng trong không gian, như một lời thách thức gửi đến thế hệ sau.

*

Nguyễn Vỹ – Nhà thơ, nhà báo kiên định với lý tưởng

Nguyễn Vỹ (1912 – 1971) là một nhà thơ, nhà báo nổi bật trong nền văn học Việt Nam thời tiền chiến. Ông không chỉ được biết đến qua hai bài thơ gây tiếng vang: Gởi Trương TửuSương rơi, mà còn ghi dấu ấn với nhiều tác phẩm đa dạng từ thơ ca, tiểu thuyết đến biên khảo.

Sinh tại Quảng Ngãi, Nguyễn Vỹ sớm bộc lộ tư tưởng yêu nước, từng nhiều lần bị bắt giam vì các hoạt động chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ông cũng là người sáng lập nhiều tờ báo như Việt – Pháp, Tổ quốc, Dân chủ, Dân ta, trong đó tạp chí Phổ Thông được đánh giá cao về văn học và nghệ thuật.

Thơ Nguyễn Vỹ mang phong cách riêng biệt, thể nghiệm nhiều lối viết mới. Dù từng bị phê phán, nhưng ông vẫn kiên trì theo đuổi con đường sáng tạo, để lại dấu ấn với những tác phẩm thể hiện nỗi trăn trở về xã hội và vận mệnh con người.

Ông qua đời năm 1971 do tai nạn giao thông, khép lại cuộc đời một người cầm bút nhiệt huyết, dấn thân không ngừng vì văn chương và tư tưởng.

Viên Ngọc Quý.

Bạn cũng có thể thích..

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *