Cảm nhận bài thơ: Sài Gòn đêm khuya – Nguyễn Vỹ

Sài Gòn đêm khuya

 

Vâng, bạn ạ, bao người đau khổ lắm.
Không cửa nhà, không một chiếc giường rơm.
Và trong lúc chúng ta đều no ấm,
Biết bao người không có một tô cơm!

Bạn có thấy hạng người nghèo khó,
Những đàn bà, con trẻ, kẻ già nua.
Rách tàn tạ, áo quần gần không có,
Nằm đầu đường, dãi nắng với dầm mưa.

Những hành khất xác xơ, đầu ủ rũ,
Ngày ngồi xin góc chợ khách đi qua.
Bạn biết tối họ nằm đâu để ngủ?
Bên bìa thành, trong những bãi tha ma!

Một đêm lạnh, lê kiếp buồn phiêu khách
Giữa Sài Gòn tịch mịch, gió âm u,
Tôi đã thấy một người cha đói rách
Ôm con ngồi trong xó tối hoang vu.

Con với bố che vài ba tấm giấy,
Nấp khe tường, chịu rét buốt tàn thu.
Người run rẩy như lá cây run rẩy,
Tiếng người rên trong gió vi vu!

Tôi dừng bước xa xa nhìn ngơ ngác,
Kía bóng ai thấp thoáng bên lùm cây?
Một thiếu phụ cúi bươi trong đống rác.
Khúc bánh mì còn được nửa gang tay!

Chị rảo bước vội vàng quanh nẻo vắng,
Chui đầu vô một ống cống bên mương.
Dòm vào đó, tôi thấy hai bóng trắng,
Nằm chèo queo, mình mẩy ốm giơ xương!

Hai em nhỏ lạnh run ho muốn ói,
Chị nâng miu gọi dậy: “Con ơi, con!
Này miếng bánh, hai con ăn đỡ đói,
Rồi sáng mai mẹ dắt đi xin cơm.”

Tôi không dám nhìn lâu, lòng trĩu nặng,
Bước đi nhanh trong gió rít đìu hiu!
Tôi đi mãi, lang thang, đường vắng lặng,
Giữa Sài Gòn leo lắt, ánh hoang liêu!

Sông mù mịt, tôi ngồi bên khóm trúc,
Nhìn lên trời, lấp lánh mấy ngôi sao,
Tôi cảm thấy cả bầu trời ô nhục,
Bởi kiếp người mang hận suốt đêm thâu!

Tôi biết lắm ai ơi, tôi biết lắm,
Nghiệp trần ai, ai nhục với ai vinh:
Nhưng phải được mọi người đều no ấm,
Mỗi mái nhà cho mỗi kiếp sinh linh.

Muốn cứu nước, thương dân, đâu phải khó!
Chỉ làm sao cho hết thảy nhân dân
Mỗi bữa đầy tô cơm ai cũng có,
Và mỗi mùa, đủ mảnh áo che thân!

Phải làm sao cho hết người đói lạnh,
Phải làm sao cho hết kẻ bần hàn,
Và làm sao những tâm hồn hiu quạnh
Được niềm vui trong an ủi hân hoan.

Đâu còn có những tiếng kêu rên rỉ
Trong lòng người thành thị với thôn quê,
Nếu tất cả đều tự do hoan hỉ,
Nếu mọi người đều ấm áp no nê!

Đêm nay lạnh, ta ngồi bên khóm trúc,
Nhìn lên trời mờ mịt mấy ngôi sao,
Gió mai mỉa cả bầu trời ô nhục,
Bởi kiếp người mang hận suốt đêm thâu.


1952

*

Sài Gòn Đêm Khuya – Tiếng Than Của Kiếp Người

Bóng Tối Phố Thị – Những Phận Đời Cùng Khổ

Sài Gòn về đêm, những ánh đèn vẫn le lói nơi góc phố, nhưng bên dưới thứ ánh sáng xa hoa ấy lại là những mảnh đời rách nát, những kiếp người lầm than chìm trong giá lạnh và đói khổ. Nguyễn Vỹ không chỉ vẽ nên một bức tranh đêm khuya của đô thị, mà còn cất lên tiếng lòng xót xa trước những số phận cơ cực – những người không nhà, không cửa, không một chốn dung thân.

“Vâng, bạn ạ, bao người đau khổ lắm.
Không cửa nhà, không một chiếc giường rơm.
Và trong lúc chúng ta đều no ấm,
Biết bao người không có một tô cơm!”

Những câu thơ như một lời nhắc nhở đầy chua xót: giữa sự đủ đầy của kẻ này là sự lầm than của kẻ khác. Xã hội tồn tại những bất công, và người nghèo vẫn phải lê lết trên vỉa hè, co ro dưới mái hiên lạnh lẽo, nhặt nhạnh từng mẩu bánh thừa để duy trì sự sống.

Cảnh Cùng Quẫn – Hình Ảnh Xót Xa

Bằng ngòi bút chân thực, Nguyễn Vỹ vẽ nên những cảnh đời không ai muốn thấy, nhưng lại là hiện thực không thể chối bỏ:

“Bạn có thấy hạng người nghèo khó,
Những đàn bà, con trẻ, kẻ già nua.
Rách tàn tạ, áo quần gần không có,
Nằm đầu đường, dãi nắng với dầm mưa.”

Hình ảnh một người cha ôm con trong đêm lạnh, co ro dưới góc tường, tiếng rên rỉ hòa vào cơn gió vi vu. Một người mẹ nhặt vội miếng bánh thừa trong đống rác, vội vàng chui vào ống cống để chia sẻ chút thức ăn cho hai đứa con gầy gò. Những cảnh tượng ấy không phải hư cấu, mà là nỗi đau của một thời đại, của những con người thực sự đang vật lộn từng ngày với đói khát và rét buốt.

Trời Cao Có Thấu?

Tác giả không chỉ dừng lại ở việc miêu tả, mà còn đặt ra câu hỏi day dứt:

“Sông mù mịt, tôi ngồi bên khóm trúc,
Nhìn lên trời, lấp lánh mấy ngôi sao,
Tôi cảm thấy cả bầu trời ô nhục,
Bởi kiếp người mang hận suốt đêm thâu!”

Giữa đêm khuya, nhà thơ ngước nhìn lên bầu trời xa xăm, nơi những vì sao vẫn lấp lánh như thể chẳng hề hay biết đến những nỗi khổ của nhân gian. Một nỗi uất hận dâng trào, một sự bất lực trước những bất công còn tồn tại. Bầu trời kia, vũ trụ kia vẫn vĩnh hằng, nhưng con người thì đang quằn quại trong kiếp sống đoạ đày.

Ước Mơ Một Xã Hội Công Bằng

Không chỉ dừng lại ở nỗi xót thương, bài thơ còn là một lời kêu gọi về một xã hội công bằng hơn, nơi con người không còn phải chịu cảnh đói rét.

“Muốn cứu nước, thương dân, đâu phải khó!
Chỉ làm sao cho hết thảy nhân dân
Mỗi bữa đầy tô cơm ai cũng có,
Và mỗi mùa, đủ mảnh áo che thân!”

Điều tác giả mong muốn không phải những lời sáo rỗng về tình yêu nước, không phải những khẩu hiệu hô hào, mà là những hành động thực tế để tất cả mọi người đều có cái ăn, cái mặc. Một đất nước chỉ thực sự bình yên khi không còn những tiếng kêu than giữa đêm khuya, khi mỗi con người đều có một mái nhà, một bữa cơm no, một tấm áo ấm.

Lời Kết – Một Thông Điệp Vượt Thời Gian

Bài thơ Sài Gòn đêm khuya không chỉ là tiếng nói của một thời đại, mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi thế hệ. Ở đâu đó, vẫn còn những con người đang sống trong cảnh màn trời chiếu đất, vẫn còn những đứa trẻ co ro trong cái rét, vẫn còn những người mẹ nhặt nhạnh từng mẩu bánh vụn để nuôi con.

Nguyễn Vỹ không chỉ muốn vẽ nên một bức tranh thực tại, mà còn muốn lay động lòng người, để từ đó, mỗi chúng ta đều tự hỏi:
Làm thế nào để không còn những tiếng kêu ai oán giữa đêm khuya?
Làm thế nào để không còn những đứa trẻ đói khát, rét mướt trong ống cống?

Bầu trời vẫn lấp lánh những vì sao, nhưng liệu ánh sáng ấy có thể xua đi bóng tối của những kiếp đời cùng khổ?

*

Nguyễn Vỹ – Nhà thơ, nhà báo kiên định với lý tưởng

Nguyễn Vỹ (1912 – 1971) là một nhà thơ, nhà báo nổi bật trong nền văn học Việt Nam thời tiền chiến. Ông không chỉ được biết đến qua hai bài thơ gây tiếng vang: Gởi Trương TửuSương rơi, mà còn ghi dấu ấn với nhiều tác phẩm đa dạng từ thơ ca, tiểu thuyết đến biên khảo.

Sinh tại Quảng Ngãi, Nguyễn Vỹ sớm bộc lộ tư tưởng yêu nước, từng nhiều lần bị bắt giam vì các hoạt động chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ông cũng là người sáng lập nhiều tờ báo như Việt – Pháp, Tổ quốc, Dân chủ, Dân ta, trong đó tạp chí Phổ Thông được đánh giá cao về văn học và nghệ thuật.

Thơ Nguyễn Vỹ mang phong cách riêng biệt, thể nghiệm nhiều lối viết mới. Dù từng bị phê phán, nhưng ông vẫn kiên trì theo đuổi con đường sáng tạo, để lại dấu ấn với những tác phẩm thể hiện nỗi trăn trở về xã hội và vận mệnh con người.

Ông qua đời năm 1971 do tai nạn giao thông, khép lại cuộc đời một người cầm bút nhiệt huyết, dấn thân không ngừng vì văn chương và tư tưởng.

Viên Ngọc Quý.

Bạn cũng có thể thích..

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *