Dưa cà tương muối năm qua
Năm nay vẫn mãi chưa xa kiếp nghèo.
Năm ngoái còn đất trồng gieo
Năm nay cây gậy chống nghèo mất luôn.

Dưa cà tương muối năm qua
Năm nay vẫn mãi chưa xa kiếp nghèo.
Năm ngoái còn đất trồng gieo
Năm nay cây gậy chống nghèo mất luôn.
Thanh xuân khó lặp lại
Bình minh đâu lần hai
Nỗ lực thời gắng sức
Năm tháng nào đợi ai.
Khi bước chân vào cửa đạo pháp thì phát tâm đứng đầu; Việc khẩn cấp tu hành, lập nguyện là trên hết…. Chớ bảo một niệm mà xem thường, đừng cho rằng nguyện suông vô ích, tâm chân ắt việc thật, nguyện rộng ắt hạnh sâu. Hư không sao rộng lớn hơn tâm, kim cương sao cứng bằng nguyện lực.
Phát nguyện khiến gia đình êm ấm, vợ hiền con hiếu, anh em thuận hòa;
Phát nguyện nghiêm túc dạy dỗ con cái trở thành rường cột của nước nhà, là bậc trung kiên trong xã hội;
Phát tâm mỗi ngày đọc kinh sách, niệm Phật, nói lời hay, mỉm cười hiền.
Trương Ái Linh (张爱玲; 1920 – 1995) là một nhà văn nữ của Trung Quốc. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà bao gồm Sắc, Giới (Lust, Caution) và Tình yêu khuynh thành (Love in a Fallen City).
Tôn Trung Sơn (孫中山; 1866-1925), nguyên danh là Tôn Văn (孫文), tự Tải Chi (載之), hiệu Nhật Tân (日新), Dật Tiên (逸仙) là một chính khách, triết gia chính trị và bác sĩ người Trung Quốc, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại nhà Thanh của người Mãn Châu và khai sinh ra Trung Hoa Dân Quốc.
Tích vàng cho con cháu, con cháu chưa chắc giữ gìn; Tích sách cho con cháu, con cháu chưa hẳn duyệt đọc. Chẳng bằng tích âm đức thầm lặng trong đời, làm kế lâu dài cho con cháu. Lời dạy của bậc tiên hiền là tấm gương cho hậu thế noi theo.
Bậc đại phúc đức trên đời tất có thể bao dung điều người khác không thể bao dung, nhẫn nhịn điều người khác không thể nhẫn nhịn.
Thiền sư Chí Công là Quốc sư trong triều đại của vua Lương Võ Đế (463 – 549). Ngài là người đã soạn thảo bộ Lương Hoàng Bảo Sám, một bộ sám pháp nổi tiếng và có công năng siêu diệt tội chướng thần dị.
Thôi Hộ 崔護 tự Ân Công 殷功, là một thi nhân đời Trung Đường, đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), làm quan đến Lĩnh Nam tiết độ sứ. Thơ ông Toàn Đường thi còn chép 6 bài, trong đó Đề Đô thành Nam Trang được lưu truyền rộng rãi nhất.
Ai bảo chim kia chẳng đáng thương
Cũng là da thịt cũng cốt xương
Khuyên người chớ bắt chim xuân ấy
Luống tội chim non khóc dạ trường.
Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông
Sóng vỗ cơ đồ bỗng hóa không
Thịnh suy thành bại anh hùng vắng
Núi xanh lặng tiễn ánh dương hồng.
Bỏ qua lời sáo rỗng, chú trọng sự thành kính, là lễ phép chân thật.
Bỏ qua sự xa hoa, tôn sùng sự thanh đạm, là cuộc sống chân thật.
Hiểu rõ luật nhân quả, biết được phúc và họa, là hành sự chân thật.
Vui vẻ đời đạm bạc, hổ thẹn ít ham muốn, là nếp sống chân thật
1. Mở miệng động lưỡi chẳng ích người, đừng buông lời.
2. Khởi tâm động niệm không lợi chi, chớ sinh khởi.
3. Nhấc chân tiến bước đều vô dụng, khỏi hành động.
Vương Duy (王维; 701 – 761), biểu tự Ma Cật (摩诘), hiệu Ma Cật cư sĩ (摩诘居士), là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhạc sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Thịnh Đường. Ông là người tinh thông về Phật học và theo trường phái Thiền tông.
Thạch Ốc Thanh Củng thiền sư 石屋清珙禪師 (1272-1352) là đại cao tăng đời Nguyên, thuộc tông Lâm Tế. Ông tên tục là Ôn, còn gọi là Phúc Lâm Thanh Hồng, quê ở Thường Thục, Tô Châu. Ông xuất gia ở chùa Sùng Phúc.
Không đau bệnh, lợi tối thượng
Sống biết đủ, giàu tối thượng
Sống chân thành, tình tối thượng
Cõi Niết bàn, vui tối thượng.
1. Chuyện bỏ phế lâu ngày không thể vội vàng mong giải quyết. 2. Thói hư tật xấu tích chứa lâu, đâu thể trừ bỏ trong phút giây. 3. Cuộc sống nhàn hạ không thể cứ mãi tham đắm. 4. Nhân tình thế thái chẳng mong hết thảy đều hòa. 5. Tai họa không vì mong thoát mà tránh được.
Bậc thiện tri thức nếu thông hiểu được năm điều này, thì chuyện xử thế sẽ chẳng có gì phải nhọc lòng nữa.
Nương vào thế gian vô thường như hoa trong gương, như trăng dưới nước, thì làm sao mà thân tâm an ổn được. “Khóc và cười” vốn là một nhưng quý ở chỗ chúng ta biết thức tỉnh mà xoay chuyển trong một niệm “ngộ hay mê” này.
Hoằng Nhất Đại sư (1880 – 1942) tên thật là Lý Quảng Hầu, hiệu Thúc Đồng. Tổ sư đời thứ 11 của Luật tông; cùng với Hư Vân, Thái Hư, Ấn Quang được tôn xưng là “Tứ đại cao tăng Dân quốc”. Trước khi xuất gia, ông là một nhạc gia nổi tiếng, đồng thời là một người rất giỏi về thơ văn, từ phú, thư pháp, còn là chuyên gia giáo dục trong lĩnh vực mỹ thuật tạo hình.
Song điêu vừa rớt máu tươi
Vội vung cương ngựa xoay người bước đi
Chớ săn cánh nhạn Nam di
Biết đâu nhà có thơ ghi gửi người.